Hôn Nhân và Bí Tích
Hôn nhân là hình thức chung sống suốt đời giữa một người nam và một người nữ trên căn bản tình yêu. Cả hai chấp nhận hình thức này, để dễ dàng cho đi và nhận lãnh tình yêu, giúp nhau vui sống trong mọi hoàn cảnh cuộc đời. Trong hôn nhân, cả hai cùng cộng tác tích cực vào sứ mạng sáng tạo của Tạo Hóa trong việc sinh sản con cái là kết quả của tình yêu hai người, đồng thời giúp nhau chu toàn trách nhiệm quốc gia và Giáo Hội (GH) trao phó trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
Có thể nói, hôn nhân là thể chế cổ kính nhất trong nền văn hóa nhân loại.
Xưa như trái đất nhưng vẫn mới như mặt trời. Mới mỗi ngày. Hôn nhân không phải là "sản phẩm" của riêng Kitô giáo mà là di sản của toàn thể nhân loại! Trong cuốn Giáo Lý Công Giáo (GLCG) ban hành ngày 11. 10. 1992, GH đã khẳng định: Hôn nhân nằm ngay trong bản tính tự nhiên của con người (1603). Kinh Thánh cũng bắt đầu bằng việc sáng tạo một người nam và một người nữ (St 1) và kết thúc bằng một tiệc cưới Chiên Con (Kh 19, 7. 9). Như thế có thể nói, từ trang đầu tới trang cuối, Kinh Thánh vừa đề cập tới hôn nhân
và con người vừa đề cập tới mầu nhiệm tình yêu và hạnh phúc của loài người.
1. Hôn nhân thời Cựu ước
Những trang đầu Kinh Thánh đã ghi lại 2 bài tường thuật về sự sáng tạo con người (St 1, 1 - 2, 4 và 2, 4b - 3, 24). Tuy bài thứ hai (2, 4b - 3, 24) cổ kính hơn bài thứ nhất (1, 1 - 2, 4) nhưng cả hai đều tường thuật một chi tiết giống nhau: Ban đầu Thiên Chúa đã sáng tạo loài người không gồm hai người nam hoặc hai người nữ, mà gồm một người nam và một người nữ. Ðể làm gì? Thưa, để họ chung sống với nhau mà cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo liên tục của Ngài (St 1, 27t; 2, 18-24; xx. thêm: Tb 8, 5-9). Như thế, hôn nhân đã nằm ngay trong ý định sáng tạo nguyên sơ của Thiên Chúa.
Ðối với người Do Thái, hôn nhân không phải là chuyện riêng tư của hai người nhưng là việc chung của cả giòng họ. Vì thế, quyền xếp đặt việc hôn nhân thường dành cho gia trưởng (Xh 22, 15t; Ðnl 7, 3). Cha chàng rể chỉ cần nói chuyện với cha nàng dâu (St 24, 2-61; 34, 1-24; 38, 6; Tl 14, 2t), nhưng cũng có những trường hợp chàng rể đã tự quyết định lấy (St 26, 34t; 28, 8t; 29, 14-30; 38, 1-5; Hc 26, 19t) hoặc nàng dâu đã dành quyền quyết định tối hậu trong việc này (St 24, 5. 8. 58). Sau khi nhà trai nộp tiền cheo (mohar), nàng dâu mới chính thức trở thành người vợ trước pháp luật. Số tiền này không thể coi là giá cả mua bán nàng dâu, nhưng đúng ra là bảo chứng trước pháp luật khi thành hôn, đồng thời có thể coi là quỹ "bảo hiểm" cho nàng, nếu không may về sau nàng bị góa chồng quá sớm. Ðám cưới của người Do Thái xưa được cử hành suốt 7 hoặc 14 ngày liền (xx. St 29, 27; Tl 14, 12; Tb 8, 18t) với con số thực khách rất đông (St 29, 22). Dù sách Tobia có nhắc tới một thứ hôn ước chính thức, được ghi trên giấy
trắng mực đen (7, 14), nhưng trong Cựu ước chưa thấy có một nghi thức rõ
ràng nào để chứng hôn. Hôn nhân thời đó chưa thể coi là Bí tích được,
dù Cựu ước cũng đã công nhận tính cách thánh thiện của hôn nhân. Hôn ước thời đó chỉ có tính cách dân luật, nhằm bảo vệ giềng mối gia đình.Xem các đề tài mới nhất cùng chuyên mục:
- Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp! 18/03/2012
- Tại sao ta cần hôn nhân? 12/11/2011
- Anh chị cho em hỏi về hỏa ngục tí ạ! 16/10/2011
- Người chồng tốt – Mười đặc điểm nơi một người chồng tốt 20/09/2011
- Em là người ngoại đạo. 16/09/2011
- Đau đớn thay thân phận đàn bà 15/09/2011
- Bạo hành trong hôn nhân căn bệnh mãn tính của xã hội 01/09/2011
- Chúa thánh thần - đấng thiết lập tương giao 07/06/2011
- Yêu người ngoại đạo... 05/05/2011
- Tâm lý hôn nhân - Toàn phần 17/11/2010
..................................................
|


LinkBack URL
About LinkBacks














Trả lời kèm Trích dẫn
(Lumen Gentium, số 11). Như thế, hôn nhân vừa là một Bí tích vừa là một ơn gọi để nên thánh.
Đánh dấu